Pages

Hiển thị các bài đăng có nhãn làm răng thẩm mỹ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn làm răng thẩm mỹ. Hiển thị tất cả bài đăng

Chăm sóc sau cấy ghép implant

Thứ Năm, 26 tháng 12, 2013
Cấu trúc xương lành mạnh của sống hàm duy trì hình dáng mô mềm thẩm mỹ xung quanh hàm răng tự nhiên và tạo ra bộ khung nâng đỡ hình dáng bên ngoài của mô mềm quanh implant. Thiếu xương ổ, đặc biệt ở hàm trên do sự tiêu xương sau nhổ răng, có thể dẫn đến các vấn đề về chức năng và thẩm mỹ,
Các vấn đề này cần sử dụng các thủ thuật gia tăng thể tích để tái lập các chiều hướng nguyên thủy quanh răng mất. Kỹ thuật tái tạo xương đã làm tăng đáng kể khả năng tái tạo chức năng và thẩm mỹ của implant nha khoa bằng việc phục hồi các khiếm khuyết sống hàm trở lại kích thước nguyên thủy của nó, điều này giúp cho việc đặt implant đạt kết quả tối ưu và làm tăng độ tin cậy của liệu pháp implant và được xem là 1 phương thức điều trị đáng quan tâm.
 
implant 1 
 
 
Tái cấu trúc xương ở vùng sống hàm có thể được phân loại theo kết quả đạt được, cả về chức năng và thẩm mỹ. Jovanovic đã phân chia các vị trí trong khoang miệng thành
(1) các vị trí liên quan đến làm răng thẩm mỹ – đòi hỏi phải có đủ cấu trúc xương (xương nâng đỡ mô mềm quanh implant để hình thành hình dạng cong lồi tự nhiên) giúp đạt được kết quả thẩm mỹ và chức năng, và
(2) vùng không liên quan đến thẩm mỹ- vị trí đòi hỏi có đủ xương nâng đỡ để bảo đảm thành công về mặt chức năng trong thời gian dài.
Cấu trúc xương bên dưới ảnh hưởng đến hình dạng và vẻ ngoài của mô mềm xung quanh. Không may là ở vùng phía trước hàm trên cấu trúc xương ổ trải qua quá trình tiêu ngót nhanh chóng sau nhổ răng. Nó mất khoảng 25% thể tích trong năm đầu tiên và mất đến 40-60% chiều rộng trong 3 năm đầu sau khi mất răng. Vì vậy, nhiều kỹ thuật tái tạo xương đã được giới thiệu giúp phục hồi các khiếm khuyết sống hàm. Việc phục hồi thể tích mô cứng bên dưới đã mất có thể thực hiện trước khi hoặc đồng thời với đặt implant, điều này giúp duy trì và nâng đỡ không chỉ phục hình nâng đỡ trên implant thẩm mỹ mà còn nâng đỡ các cấu trúc vùng mặt liên quan.
 

Những thay đổi trong kiểu tiêu xương ổ hàm trên đòi hỏi các phương thức xử lý khác nhau; kích thước và từng loại khiếm khuyết xương cụ thể ảnh hưởng đến việc lựa chọn thủ thuật ghép thích hợp nhất. Ví dụ, các khiếm khuyết sống hàm nhỏ gợi ý sử dụng vật liệu ghép đồng thời với thủ thuật đặt implant; trong khi các khiếm khuyết sống hàm theo chiều ngang ở mức độ trung bình đòi hỏi việc sử dụng thủ thuật ghép có khả năng tiên lượng kết quả tốt hơn như ghép xương tự thân theo phương thức điều trị từng giai đoạn như ghép xương trước khi đặt implant.  Trong trường hợp khiếm khuyết sống hàm theo chiều dọc và chiều ngang nghiêm trọng, cần sử dụng các công cụ tái tạo phức tạp hơn sao cho có thể tiên lượng được kết quả ghép xương tốt hơn.
 
implant 2 
 
Có nhiều ưu điểm về công nghệ trong các thủ thuật ghép xương trong miệng. Một trong những tiến bộ hiện nay trong kỹ thuật ghép xương liên quan đến việc sử dụng các protein tạo dạng xương (BMPs-Bone Morphogenetic Proteins), như BMP-2, có khả năng kích thích quá trình tạo xương và làm tăng mật độ xương qua quá trình tiêu và tái cấu trúc chậm. BMP-2 giúp gia tăng quá trình phân bào của tế bào mầm tại chỗ để lôi kéo các tế bào trung mô không biệt hóa vào vùng ghép. Các tế bào này có thể được chuyển thành nguyên bào xương, bằng sự phân bào tạo hình thái phù hợp, và bắt đầu quá trình tạo thành khung xương. Quá trình này được gọi là cơ chế tạo hình phân bào đa dạng nhằm kích thích lành thương mô xương. Nó có thể trở thành thủ thuật ghép xương lý tưởng trong tương lai gần.
 
Các ưu điểm của kỹ thuật cũng đã đưa vào qui trình sản xuất các loại màng tái tạo xương có hướng dẫn, các ưu điểm này đã được tập trung chủ yếu vào việc nâng cao các đặc tính sinh lý và tương hợp sinh học của vật liệu màng ngăn. Trên thị trường hiện nay có cả loại màng tự tiêu và không tự tiêu. Sử dụng màng tự tiêu không cần thêm phẫu thuật để tháo bỏ màng ngăn và cho thấy ít có phản ứng mô hơn do bản chất sinh học của loại vật liệu này. Màng ngăn không tự tiêu có thể tồn tại lâu hơn tại vị trí che chở mô ghép, nhờ vậy nó cho hiệu quả ghép xương tốt hơn; tuy nhiên nó cần phải thực hiện thêm một lần phẫu thuật để tháo bỏ màng. Tuy nhiên, y văn không cho biết rõ loại nào cho phép tiên lượng kết quả tốt hơn. Việc chọn lựa loại màng tái tạo xương có hướng dẫn nào nên tùy thuộc vào sự hiểu biết rõ các lợi ích của chính vật liệu màng và giới hạn  của vật liệu  liên quan đến các yêu cầu chức năng đối với ứng dụng lâm sàng đặc biệt.
 
Ghép xương tự thân trong bất kỳ thủ thuật tái tạo nào cũng được xem là tiêu chuẩn vàng đối với các thủ thuật ghép xương, vì nó cung cấp các protein như các chất nền gia tăng lượng xương, các chất khoáng, và tế bào xương còn sống cho vị trí ghép, qua đó nâng cao thành công toàn bộ thủ thuật ghép xương, dẫn đến tỉ lệ thành công cao. Các vị trí lấy xương tự thân dùng ghép xương ổ có thể là trong hoặc ngoài miệng. Các vị trí lấy xương ngoài miệng gồm xương mào chậu, xương chày, xương sườn, xương sọ; tuy nhiên việc lấy xương ngoài miệng thường gây ra các tình trạng tổn thương thêm ở vùng lấy xương và đòi hỏi phẫu thuật phức tạp. Mặt khác, các vị trí trong miệng như ở vùng lồi củ, góc hàm, đặc biệt ở vùng cằm thường cho chất lượng xương tốt hơn và kết quả hậu phẫu dễ tiên lượng hơn.
 
Gần đây, vào năm 1998, tạo xương do sử dụng dụng cụ kéo xương đã được giới thiệu như là 1 phương pháp hứa hẹn phục hồi sống hàm khiếm khuyết trở lại hình dạng và kích thước nguyên thủy. Kỹ thuật này đã được thực hiện trong các phẫu thuậtchỉnh hình, nó được dùng để kéo dài xương ống ở trẻ em, và hiện nay được dùng để phục hồi tình trạng teo sống hàm trầm trọng. Nó loại bỏ việc phẫu thuật lấy xương và giảm nguy cơ bệnh tật so với thủ thuật ghép tự thân.
 
Việc chọn kỹ thuật hoặc vật liệu ghép thích hợp ảnh hưởng đến thành công và và khả năng tiên lượng kết quả điều trị sau cùng. Kích thước và loại khiếm khuyết và tình trạng sức khỏe toàn thân là một số yếu tố ảnh hưởng đến việc quyết định thực hiện thủ thuật ghép xương.



Xem thêm 
>> 

Khóa học implant tại bênh viện răng hàm mặt trung ương

Read more ...

Làm răng thẩm mỹ - lam rang su với Lithium Disilicate

Thứ Ba, 5 tháng 11, 2013
Xã hội ngày càng phát triển nên nhu cầu làm răng sứ của khách hàng càng ngày càng lên cao. Chính do nhu cầu đó nên những vật liệu cao cấp đảm bảo tính thẩm mỹ, chức năng nhai và độ bền và giá thành tốt cũng được tìm ra. 
Trong lịch sử y học nói chung và nha khoa nói riêng thì việc kết hợp 2 vật liệu  không tương thích lại với nhau không phải là việc dễ chứ chưa nói gì tới làm cho chúng hòa hợp, tăng khả năng ban đầu của chúng, đó là một thành công trong việc làm răng thẩm mỹ.
lam rang su 1 
Cùng với đó thì nha khoa lâm sàng và các phòng thí nghiệm y học đang tìm cách phát triển ứng dụng những tính năng tuyệt với của CAD/CAM. Lithium Disilicate có tiềm năng lớn trong tương lai để lựa chọn và cải thiện thẩm mỹ cho khách hàng. Lithium Disilicate là một dạng thủy tinh đại diện cho vật liệu duy nhất có sẵn cho bác sĩ và kĩ thuật Labo giúp tăng cao khả năng thẩm mỹ.
Lithium Disilicate là vật liệu sử dụng an toàn trong môi trường miệng.
lam rang su 2
Lithium disilicate là gì ?
Sứ nha khoa được phân loại theo cấu trúc tinh thể hoặc theo ứng dụng của nó.
IPS e.max (Ivoclar Vivadent) lithium disilicate bao gồm tinh thể thạch anh, dioxide lithium, oxit phosphor, alumina, oxit kali, và các thành phần khác.
IPS e.max (Ivoclar Vivadent) được nhà sản xuất phân phối dưới dạng thỏi sứ thủy tinh .
Những ion đa hóa trị được hòa tan trong thủy tinh  sử dụng để cung cấp các màu sắc mong muốn của thỏi sứ. Những màu sắc ion kiểm soát được phân phối đồng nhất trong vật liệu, một pha tạo nên màu sắc tự nhiên như răng thật. có độ trong, độ mờ như răng tự nhiên.
Read more ...

Dịch vụ làm răng thẩm mỹ cấy răng giá rẻ

Thứ Ba, 22 tháng 10, 2013
Làm răng thẩm mỹ là một cách mọi người tìm đến để giúp cải thiện hàm răng. Các cụ có câu: "Cái răng cái tóc là góc con người" vì vậy hàm răng ngoài tác dụng để nhai nó còn mang lại cho bạn một sự tự tin nhất định khi giao tiếp. Nếu bạn đã có một hàm răng đẹp thì nên chăm sóc nó tốt. Còn nếu bạn đã có một hàm răng không được đẹp thì nha khoa hà nội sẽ chỉ cho bạn một số cách để cải thiện hàm răng của bạn. Đó chính là cách làm răng thẩm mỹ để cho bạn tự tin cười ở bất cứ đâu.


Khi nhắc tới làm răng thẩm mỹ thì bạn đã đặt ra một số câu hỏi như. Khi nào làm răng thẩm mỹ, ưu nhược điểm của nó? Khi làm thì cần điều kiện như thế nào? Vậy hãy cùng chúng tôi trả lời để không còn thắc mắc khi quyết định làm răng thẩm mỹ nhé.

làm răng thẩm mỹ 1



1. Khi nào ta nên làm răng thẩm mỹ?

Khi răng của bạn bị mất hoặc thân răng bị ố màu do hút thuốc hoặc do vệ sinh hàng ngày không đúng cách. Tất cả những tác động không mong muốn làm hàm răng xấu đi thì bác sĩ sẽ mài đi lớp men răng đã hỏng và làm mặt sứ để dán vào chỗ khiếm khuyết đó. Như thế đã làm răng của bạn đẹp trở lại rồi nhé.

- Khi răng bị sâu, vỡ to thì việc dán sứ sẽ không mang lại tác dụng hiệu quả nhất. Lúc này các bác sĩ nha khoa sẽ tiến hành mài cho chiếc răng đó nhỏ lại và tạo một chiếc răng sứ để bù đắp vào chỗ khiếm khuyết đó. Trong trường hợp này thì giới chuyên môn gọi là mão sứ.

2. Ưu và nhược điểm khi làm răng thẩm mỹ?

Hiện nay thì việc làm răng thẩm mỹ với răng sứ thì có 4 loại răng sứ chính. Đầu tiên là loại răng sứ thường chỉ khoảng từ 1 đến 1,5 triệu một chiếc. Loại tiếp theo là sứ bằng ti tan có gì 2-3 triệu một chiếc, đắt hơn là 5-6 triệu một chiếc. Đặc biệt hơn là sứ làm bằng vàng hay bạch kim thì có giá thay đổi theo giá vàng.

làm răng thẩm mỹ 2

Mặc dù các loại sứ có giá khác nhau nhưng nếu làm răng thẩm mỹ đúng kĩ thuật thì mỗi loại đều có thể sử dụng tốt và lâu dài. Tuy nhiên thì sứ kim loại có một nhược điểm là sẽ bị lộ màu đen  khi bị ánh sáng đèn chiếu qua và nặng hơn nên tính thẩm mỹ của nó không cao bằng các loại sứ khác.

Phải đảm bảo những gì khi làm răng thẩm mỹ?

Điều đầu tiên trong các trường hợp làm răng thẩm mỹ là phải đảm bảo mục đích tối thiểu nhất cũng quan trọng nhất là phục hồi lại trạng thái tốt nhất cho chức năng là nhai của răng. Sau khi hoàn thành thì răng đã làm sẽ như răng thật , mang lại cảm giác thật và ăn nhai bình thường, nói chuyện bình thường.

Tiếp theo là tiêu chí thẩm mỹ sẽ đánh giá việc làm răng thẩm mỹ có tốt hay không. Dù răng được làm là răng bên trong hay bên ngoài thì cũng phải mang lại tính thẩm mỹ một cách tốt nhất.


Liên hệ ngay với  Nha Khoa Hà Nội để có thể được tư vấn và giải đáp về các vấn đề liên quan đến làm răng thẩm mỹ. Ngoài ra chúng tôi còn tư vấn và cung cấp dịch vụ cấy răng chuyên nghiệp nếu các bạn bị mất răng. Hãy gọi cho chúng tôi ngay để nhận được tư vấn tốt nhất.

Phòng khám nha khoa uy tín tại Hà Nội

Địa chỉ : số 167 Quan Hoa - Quận Cầu Giấy - Hà Nội.
Hotline: 0979.257.683 hoặc 0913.186.098.
Website: nhakhoahanoi.org[/FONT][/SIZE]
Read more ...

Làm răng thẩm mỹ bằng phương pháp cấy răng implant

Thứ Ba, 1 tháng 10, 2013

Cấy ghép Răng Implant tức thì

   
trồng cấy răng implant


Dental - Implant - Kỹ thuật thực hiện mão trực tiếp rất giống với thực hiện 1 mão R trên R tự nhiên. Việc thực hiện mão dán tiếp cần sử dụng 1 bản sao Implant, và labo hoặc BS thực hiện phần lớn công việc liên quan đến chuẩn bị abutment, thực hiện mão trung gian, và thực hiện mão R trên mẫu hàm.

1. Thực hiện cấy răng implant trực tiếp:

Việc làm răng thẩm mỹ với phương pháp cấy răng trên implant rất được ưa chuộng hiện nay bởi lợi ích và tác dụng của nó. Bệnh nhân thường đến với bác sĩ phục hình với phần healing cap đã được đặt trên Implant. Ở lần hẹn đầu tiên này, bs phục hình nên kiểm tra vị trí Implant qua việc sử dụng hướng dẫn phẫu thuật, và phần healing cap được bao quanh bởi mô sừng hoá trưởng thành.

cay rang implant

Độ sâu thăm dò nên nhỏ hơn 4 mm, trên film x- quang xương mào cách vùng nối Implant - abutment trong khoảng 1.5 mm nha sĩ đánh giá và sửa chữa hình dạng ngoài của R kế cận và mặt phẳng nhai nếu cần thiết. Nha sĩ cũng nên đánh giá khớp cắn của bệnh nhân như sự trồi-nghiêng của R đối diện. Trong lần hẹn này, nha sĩ cũng có thể xác định  tất cả các thành phần cần thiết cho việc phục hình trong lần hẹn tiếp theo-thường kéo dài khoảng 45 phút. Khi có thời gian, nha sĩ có thể lấy dấu hàm đối diện và màu răng để làm răng thẩm mỹ.

Lần hẹn tiếp theo rất quan trọng đối với việc phục hình và là thời điểm chính của qui trình phục hình. Với một nha sĩ có kinh nghiệm, thủ thuật này cũng có thể được thực hiện ở lần hẹn phục hình đầu tiên. Nha sĩ tháo phần nối xuyên nướu ( healing cap ), thường là với dụng cụ lục giác 0.50 inch và thường không cần gây tê. Sau đó nha sĩ đặt abutment vào phần chống xoay của thân Implant.


trong rang implant

Ngoài ra, các sợi mô liên kết vòng có thể phủ quanh phần đầu Implant, và nha sĩ phục hình cần cắt bỏ mô này với dụng cụ bấm mô, dao hoặc mũi khoan kim cương dùng với tay high speed. Thủ thuật này thường cần gây tê và chảy máu có thể gây ảnh hưởng đến việc lấy dấu cuối cùng của abutment. Có nhiều thiết kế làm sẵn trong mỗi hệ thống Implant. Ở vùng không cần thẩm mỹ, abutment tiêu chuẩn gồm 2 phần là chọn lựa hàng đầu. Ở vùng đòi hỏi thẩm mỹ hoặc cần tạo hình dạng đặc biệt có thể cần thực hiện 1 abutment riêng có hình dạng giải phẫu phù hợp hoặc 1 abutment thẩm mỹ. Trong trường hợp này, nha sĩ không nên chọn phương pháp trực tiếp. Thay vào đó, nha sĩ  nên lấy dấu thân Implant để tạo ra abutment và mão R trong labo với phương pháp gián tiếp.

    Một khi abutment được gắn vào phần chống xoay của Implant và ốc cố định được siết chặt, abutment và mão phải đạt được sự khít sát hoàn toàn. Nếu thân Implant tạo góc lớn hơn 15 độ so với mặt phẳng nhai, nha sĩ nên lựa 1 abutment được bẻ góc sẵn 15, 20 hoặc 30 độ để sửa chữa thân Implant bị bẻ góc. Chụp film quanh chóp hoặc film cắn cánh để chắc rằng việc gắn kết giữa các thành phần đã khít khao. Đôi khi, abutment không gắn kết khít sát với Implant hoặc bị mô mềm chui vào giữa phần tiếp xúc abutment-Implant, khi đó cần phải định vị cho khít sát hoàn toàn và chụp film kiểm tra.

Sau khi đã chắc chắn rằng abutment đặt đúng vị trí, dụng cụ vặn ốc có đo lực torque được sử dụng để siết chặt ốc giữ abutment.

cay rang bang implant

Trong phần lớn trường hợp, lực Torpue đặt vào ốc vặn khoảng 30Ncm và lực này tương đương 50-75% module đàn hồi của vật liệu và thiết kế ốc. Nha sĩ nên dùng kẹp cầm máu để giữ abutment trong khi siết ốc cố định để giảm lực xé trên vùng mào xương quanh thân Implant. Sau đó nha sĩ nới lỏng ốc siết ra và siết chặt trở lại tới 30 Ncm. Điều này làm giãn nhẹ ren ốc và làm giảm sự lỏng ốc.

Nha sĩ dùng tay khoan tốc độ cao với lượng nước làm mát nhiều và dùng mũi khoan mới có rãnh cắt (ví dụ 702 hoặc 703) để chuẩn bị abutment. Đường hoàn tất có thể là bờ xuôi (knife edge) hoặc bờ vát cạnh (chamfer), tuỳ theo thiết kế của nha sĩ. Một số abutment được điều chỉnh để có đường hoàn tất đặc biệt. Trong những trường hợp này, nha sĩ sẽ đánh giá vị trí đường hoàn tất và bổ sung nó theo ý muốn.

Nếu vùng cổ Implant không nằm trong vùng thẩm mỹ, đường hoàn tất ở ngang hoặc trên mô cho phép lấy dấu và vệ sinh dễ dàng hơn. Tuy nhiên, abutment nên có chiều cao ít nhất 5mm để bảo đảm sự lưu giữ của mão R. khi 1 Implant thay thế cho 1 R sau, mão R cần 1 abutment chống xoay.

Vì sự lỏng ốc siết abutment thường gia tăng ở vùng R phía sau, nên trong 1 số trường hợp, như thiết kế của hệ thống Branemark, người ta tạo 1 đường vào trên mặt nhai của mão R gắn bằng xi-măng như là một biện pháp dự phòng. Một điều quan trọng là đường vào này là để dành cho ốc siết abutment chứ không phải để siết cố định phục hình. Oác siết abutment thường lớn hơn và chắc hơn. Oác abutment thường dài hơn và vì vậy có khả năng lưu giữ tốt hơn. Mão R trong trường hợp này được gắn vào abutment bằng xê-măng chứ không phải được siết bằng ốc cố định vào thân Implant. Tuy nhiên, nếu xảy ra tình trạng lỏng ốc, nha sĩ sẽ sử dụng đường vào tạo sẵn trên mão ra để đi vào và siết chặt lại ốc cố định abutment với Implant. Khi siết mão R trên Implant, cần phải dùng một lực để giữ mão R chống lại lực xoắn gây ra trên mão R. Một rãnh theo chiều ngoài trong được tạo ra trên abutment và gắn kết với phục hình. Bằng cách này, lực nén trên xê-măng chống lại lực xoắn vặn thay vì lực xé (lực có thể làm lỏng mão). Đường vào từ mặt nhai của mão R chỉ cần lớn bằng đường kính của dụng cụ siết ốc (thường khoảng 2mm). đường vào được bao quanh bởi sườn kim loại để hạn chế nguy cơ vỡ sứ. Một cục gòn nhỏ được đặt vào trong lỗ và trám composite bít kín đường vào. Tiếp xúc cắn thì đầu được hướng dọc theo thân Implant, các điểm tiếp xúc này được mở rộng ra 3mm quanh đường vào ở trung tâm mặt nhai.

Ưu điểm đáng kể của 2 Implant liên kết nhau thay thế cho 1 R cối hàm dưới là các abutment không cố định bằng vít có thể được dùng cho việc lưu giữ mão R bằng xê-măng với 1 hoặc 2 diện phẳng trên các Implant này. Các mão R liên kết gắn vào các diện phẳng của abutment và năng ngừa hiện tượng lỏng ốc. Vì vậy không cần phải sử dụng các abutment 2 thành phần chống xoay. Khớp cắn có thể hướng thẳng vào trên thân Implant vì đường vào để vặn ốc không cần.

Trụ abutment có thể cần được chuẩn bị với việc mài bớt nếu khoảng cách giữa các trụ abutment hoặc giữa abutment và thân R thật nhỏ hơn 1,5 mm. Vì vậy khi 2 Implant phục hồi cho 1 R cối, các trụ abutment cần mài vát để tăng thêm khoảng không giữa chúng và bảo đảm hình dạng tiếp xúc đầy đủ và dễ dàng vệ sinh R miệng. Bờ phục hình vùng R sau thường ở ngang mức hoặc trên viền nướu nếu độ lưu giữ mão R đủ và ngoài vùng thẩm mỹ. Chất liệu liên quan đến mặt nhai mão R cũng cần được chọn lựa trước khi chuẩn bị trụ abutment vì nó có thể ảnh hưởng đến chiều cao abutment.

Ở vùng thẩm mỹ hoặc khoảng liên hàm nhỏ với chiều cao abutment giảm, nha sĩ thực hiện đường hoàng tất dưới nướu. Vì vậy, nha sĩ đưa chỉ  co nướu vào rãnh nướu. Thủ thuật này dễ thực hiện so với R thiệt vì không có sợi mô liên kết nào gắn vào trụ abutment. Dụng cụ vặn ốc cố định abutment ở mức 30 Ncm và dụng cụ cầm máu chống lực xoắn trên abutment bảo đảm cho ốc không bị lỏng do rung trong khi mài chỉnh mão.
Nha sĩ thực hiện việc lấy dấu sau cùng trụ abutment với vật liệu lấy dấu đàn hồi, lấy dầu hàm đối diện và dấu cắn. Nha sĩ thực hiện một phục hình trung gian ở vùng thẩm mỹ, hoàn toàn không tiếp xúc nhai để giảm nguy cơ quá tải sớm ở vùng mào xương. Ơû các loại xương tốt (D1, D2) và vùng không đòi hỏi thẩm mỹ, không cần thực hiện mão trung gian trừ khi trụ abutment gây ra cảm giác bén nhọn hoặc gây khó chịu đối với lưỡi. Nếu không, BS sẽ hẹn bệnh nhân đến lần hẹn tiếp theo.

Labo sẽ đổ dấu bằng thạch cao cứng và cố định với hàm đối diện qua dấu cắn. Mão R sau cùng được tạo ra với độ rộng hơn và phẳng hơn hố trung tâm thông thường trên vùng đỉnh của trụ abutment vì tiếp xúc nhai thì đầu. Khi sứ được dùng trên mặt phẳng nhai, sườn kim loại mở rộng về phía mép của phục hình để bảo đảm rằng các lực xé được đặt vào các vùng sứ được nâng đỡ bởi kim loại. Hình dạng phía má của mão R ở hàm dưới và hình dạng phía lưỡi ở hàm trên thường được giảm bới để giảm các lực lệch trục trên Implant trong khi chịu lực.
Mão đơn ở vùng R sau gắn vào lần hẹn phục hình sau. Nha sĩ phải chắc rằng ốc vặn được bảo đảm được 30 Ncm, định vị mão, đánh giá các tiếp điểm bằng chỉ tơ nha khoa, và kiểm tra với film x quang sự tiếp xúc của bờ phục hình. Trước tiên, nha sĩ điều chỉnh khớp cắn tương tự như với R thật, với lực cắn nhẹ và giảm hoặc loại bỏ bất kỳ tiếp xúc lệch trục nào. Sau đó, lực nhai mạnh được sử dụng để đánh giá khớp cắn cuối cùng. 

Phục hồi cuối cùng thường được gắn bằng xê-măng được xử lý mềm (soft access cement) như o- ethoxy- benzoic acid (EBA). Điều này cho phép phục hình tránh được tình trạng lỏng ốc gắn abutment hoặc vỡ bể sứ. Nha sĩ sẽ nói cho bệnh nhân biết hiếm khi xê-măng này không giữ được phục  hình chắc chắn, tuy nhiên không giống như với R thất, tình trạng này không gây ra tình trạng sâu R hoặc nhạy cảm. Nếu phục hình không còn dán dính sau năm đầu tiên thì nha sĩ có thể sử dụng một loại xê-măng cứng hơn.

Nha khoa uy tín tại Hà Nội chính là phòng khám Nha Khoa Hà Nội luôn luôn làm việc với phương châm.


"Tự tin cho bạn - niềm tự hào cho chúng tôi"

Địa chỉ : số 167 Quan Hoa - Quận Cầu Giấy - Hà Nội.
Hotline: 0979.257.683 hoặc 0913.186.098.



Read more ...